Lược sử thành lập giáo xứ Kim Mai - Gp. Ban Mê Thuột
I . SƠ TÍCH TRƯỚC KHI THÀNH LẬP GIÁO XỨ KIM MAI (1956 - 1969)
Dọc theo quốc lộ 14 về hướng Nam, cách trung tâm thành phố Buôn Ma Thuột khoảng hơn một cây số, vào những năm trước năm 1956 hầu như không có bóng người Kinh, nguyên chỉ mấy dãy nhà sàn của đồng bào dân tộc Êđê. Sau này binh sĩ đồn trú gần đó đưa gia đình đến ở gần với cư dân bản địa, mỗi ngày mỗi đông và cất nhà tùy thích. Lâu ngày họ tự nhóm chợ mua bán trao đổi với nhau, giữa người Kinh và người Thượng, giữa mình với ta. Cái tên "chợ Nhỏ cổng số 1" có bắt đầu từ đó để phân biệt với chợ Lớn ở trung tâm thị xã. Nghe nói thời Pháp thuộc, họ đặt hai cổng kiểm soát cửa ngõ vào thị xã dọc theo quốc lộ này, gọi là "cổng số 1 và cổng số 2", cự ly cũng cách ngã Sáu trung tâm thị xã đúng bằng tên gọi của nó.
Tháng 8 năm 1957 có vụ hỏa hoạn cháy rụi những dãy nhà sàn của anh em dân tộc nằm sát khu chợ Nhỏ, bản chất du canh du cư đã thành tập tục lại thêm nhà cháy, người dân tộc tin là thần Lửa xua đuổi và "ăn cái nhà" không muốn cho họ ở chỗ cũ nữa nên phải dời đi nơi khác.
Buôn Alê A, cổng số 1 - Năm 1957 (đường Y Nuê bây giờ)
Trong lúc người Thượng bỏ đi, sẵn đất trống ngổn ngang, người Kinh đến xí đất cất nhà thoải mái. Được vài năm, người đến lập nghiệp đông dần, người đến sau ở lan dài xuống gần cầu Trắng và dọc theo bên này suối EaTam, cư dân ở đây lúc đầu chỉ có ít gia đình Công giáo, họ bơ vơ lạc lõng, tự đi tìm nơi dự thánh lễ ở tận nhà thờ cha Romeuf, là thánh đường của giáo xứ Banmêthuột lúc bấy giờ (nay là chỗ trường trung học cơ sở Phan Chu Trinh đường Nguyễn Tất Thành). Từ lòng sùng kính, họ tụ nhau lại đọc kinh lượt gia đình vào tháng Mân Côi và dần hình thành hai giáo điểm: Cổng số 1 và Cổng số 2.
1- THÀNH LẬP 2 GIÁO HỌ: TÂN LẬP và TIẾN THÀNH
Năm 1962 có thêm giáo dân từ vùng Đông - Giang Sơn và Kim Châu - Phát vì an ninh ra lánh nạn, đa số ở bên kia cầu Trắng. Lúc này dân cư ở cổng số 2 có đến 90% là Công giáo, họ họp nhau lại bàn tính và rủ luôn giáo dân ở cổng số 1, phát dọn và xin phép dựng nhà nguyện bằng vật liệu đơn sơ trên quả đồi không cao lắm ngay sát quốc lộ 14, đất này do đơn vị vận tải gần đó nhượng cho (nay chính là nơi thánh đường giáo xứ Kim Mai đang tọa lạc, số 254 đường Lê Duẩn).
Nhà nguyện giáo họ Tân Lập (cổng số 2)
Ít tháng sau thấy bất tiện, cũng ngay năm ấy, cổng số 1 xin phép dựng nhà nguyện riêng, trên phần đất gần chợ Nhỏ, của anh em nhà ông Nguyễn Thạch Kim và Nguyễn Văn Châu dâng cúng.
Linh mục Gioan Baotixita Trần Thanh Ngoạn thay cố Romeuf làm chánh xứ Ban Mê Thuột (Ngài xây dựng nhà thờ giáo xứ Thánh Tâm bây giờ) đã cổ võ và chuẩn thuận cho giáo dân dựng hai nhà nguyện lợp bằng tôn vách ván, thành lập 2 giáo họ: Tiến Thành ở cổng số 1 nhận thánh Giuse thợ làm bổn mạng và Tân Lập ở cổng số 2 nhận thánh Phanxico xavie làm bổn mạng. Hai ông trùm tiên khởi cũng là người dứng dổ, đứng mũi chịu sào lúc buổi ban đầu là:
* Ông Gioan Baotixita Nguyễn Văn Châu ở giáo họ Tiến Thành.
* Ông Phêrô Đỗ Văn Cung ở giáo họ Tân Lập.
2- GIÁO XỨ BANMÊTHUỘT II
Năm 1963 khi chưa tách địa phận, các xứ đạo toàn Darlac đều trực thuộc giáo phận Komtum. Giáo xứ Banmêthuột lúc ấy được Tòa giám mục Komtum chia ra làm thêm một giáo xứ mới, địa giới từ ngã tư Biệt Điện (Y Ngông & Lê Duẩn bây giờ) đến hết buôn Alê B, có tên là giáo xứ Banmêthuột II. Nhà thờ giáo xứ còn gọi là nhà thờ Quân Đội (nay là hội trường Tỉnh Ủy), vì khu vực này có rất nhiều đơn vị quân đội đóng quân. Nhận thánh Gioan Baotixita làm bổn mạng.
Hang đá và nhà thờ Quân Đội
Hai giáo họ Tân Lập và Tiến Thành nằm trong địa bàn của giáo xứ mới này. Cha quản xứ là linh mục Phêrô Lê Hùng Tâm. Ngoài việc cha chánh xứ là tuyên úy quân đội, giáo xứ còn thêm chức năng mở trường Tiểu học Độc Lập và Trung học Hưng Đức, nên bề trên đã lần lượt cử các cha phó về giúp giáo xứ và đặc trách trường Trung học Hưng Đức:
* Linh mục Giuse Đào Xuân Thanh (1965 - 1967).
* Linh mục Anrê Lê Trần Bảo (1967 - 1969).
* Linh mục Đa Minh Phạm Bá Tòng (1969 - 1971).
* Linh mục Giuse Đặng Sĩ Bình (1971 - 1975), dưới thời cha Vinh Sơn Nam Huân làm Tuyên úy Quân Đội.
Cạnh nhà thờ QĐ là trường Trung học Hưng Đức và Tiểu học Độc Lập
Banmêthuột II là một xứ đạo hòa nhập giữa dân và quân; phía quân đội có ban đại diện riêng; nên sau khi lập giáo xứ, bên dân sự cũng bầu một ban hành giáo riêng. Tuy nhiên giữa hai phía quân dân luôn hài hòa cởi mở, cảm thông trong một niềm tin. Không phân biệt mới cũ, khó nghèo, cùng chia sẻ vui buồn, hỗ trợ lẫn nhau trong các dịp tổ chức lễ lớn như Chầu lượt - Rước trong tháng hoa - Phục Sinh - Noel... hoặc thỉnh thoảng có người qua đời, hoạn nạn.
Ban hành giáo khóa I (bên dân sự) được bầu năm 1964, gồm 4 vị:
1. Ông Nguyễn Văn Châu - Chánh trương.
2. Ông Đỗ Văn Cung - Phó trương.
3. Ông Nguyễn Ngọc Thơ - Thư ký.
4. Ông Mai Hữu Lễ - Thủ quỹ.
Sau 4 năm mãn nhiệm, bầu lại ban hành giáo khóa II vào năm 1968:
1. Ông Nguyễn Văn Hàn (Tư Han) - Chánh trương.
2. Ông Đỗ Văn Cung - Phó trương.
3. Ông Nguyễn Trung Thành - Thư ký.
4. Ông Ngô Đình Thẩn (Bếp) - Thủ quỹ.
1. Ông Nguyễn Văn Hàn (Tư Han) - Chánh trương.
2. Ông Đỗ Văn Cung - Phó trương.
3. Ông Nguyễn Trung Thành - Thư ký.
4. Ông Ngô Đình Thẩn (Bếp) - Thủ quỹ.
II . HÌNH THÀNH VÀ THÀNH LẬP GIÁO XỨ KIM MAI
Giáo phận Ban Mê Thuột được thành lập năm 1967, tách ra từ giáo phận Kom Tum. Sau hai năm giáo phận mới xét thấy: ở giáo xứ Banmêthuột II nên để giáo dân bên dân sự có nhà thờ riêng cho thuận lợi. Cha quản xứ Phêrô Lê Hùng Tâm mời họp giáo dân bàn bạc và quyết định xây dựng nhà thờ mới trên nền đất nhà nguyện của giáo họ Tân Lập, với lý do đất rộng, cao thoáng, giáp mặt đường tiện lợi giao thông và là trung điểm.Lúc đấy người ta mới hiểu nhiệm màu của Chúa Quan Phòng, dựa vào Banmêthuột II để nảy sinh ra giáo xứ mới. Quả vậy, Banmêthuột II chính là bà vú nuôi của Kim Mai sau này.
Linh mục Phêrô Lê Hùng Tâm
Đêm 14/3/1975 trên hành trình thương khó, cha đã từ giã cõi tạm, mãi mãi ra đi ở tuổi 47, với 14 năm linh mục (1961)
Ngày 30/3/1969, Đức cha Phêrô Nguyễn Huy Mai - Giám mục tiên khởi Giáo phận Ban Mê Thuột về làm phép đặt viên đá đầu tiên và khởi công xây dựng thánh đường giáo xứ mới.
Việc xây dựng, ngoài Ban hành giáo khóa II, dở dang chuyển tiếp, còn có ban kiến thiết thánh đường gồm 3 người phụ trách: Ông Nguyễn Văn Khấn (gầy), trưởng ban kiêm nề. Ông Nguyễn Văn Chăm, phó ban kiêm mộc. Ông Trần Mậu Đô, thư ký công trường.
Công trình xây cất đang độ thi công dở dang khoảng 60% thì linh mục Phêrô Lê Hùng Tâm mãn nhiệm tuyên úy quân đội, chuyển về quản xứ Châu Sơn. Đang lúc giao thừa, một giáo xứ đang hình thành, non nớt, thiếu thốn đủ điều lại bị tai vạ do bom đạn gây ra trong chiến cuộc Mậu Thân: trên Tiến Thành cháy rụi 100%, chết trọn hai gia đình và mấy người lẻ tẻ, dưới Tân Lập nhà cửa ít bị hư hao hơn nhưng số người bị thương vong cao hơn cổng số 1.
Công việc như mớ bòng bong, nhà thờ chưa xong, túi tiền lại cạn, không có chủ chăn, thiếu mẫu mã kỹ thuật, thi công thiết kế đều do một mình trưởng ban kiến thiết tự liệu, có lẽ vì thế mà nhà thờ Kim Mai thời gian ngắn sau này đã xuống cấp nặng nề.
Đang lúc nóng bỏng, ngày 13/6/1969 Tòa Giám Mục cử linh mục Gioakim Nguyễn Đức Oánh từ Chi Lăng về làm cha quản xứ tiên khởi giáo xứ Kim Mai và bắt đầu thực hiện chức năng người mục tử. Giáo xứ mới hình thành, còn nguyên xi chưa bóc tem cắt chỉ, chưa đăng ký đạo lẫn đời, chưa có cả nơi ở cho phần cha sở, ngài phải trú tạm ở phòng mặc áo mới xây xong phần thô mất quá nửa năm.
Linh mục Gioachim Nguyễn Đức Oánh, sinh 1930.
Lúc đang là cha sở nhà thờ Chánh Tòa, lâm bệnh và mất ngày 10/12/1978 tại Sài Gòn, với 17 năm linh mục (1961)
Với hai bàn tay trắng, quản nhiệm một giáo xứ mới tinh, giáo dân non 1000 người, đã ít lại nghèo có hạng, vậy mà ngài đã tháo vác, tần tảo đi ngược về xuôi tìm kinh phí xây xong nhà thờ và dần dần đưa vào nề nếp.
Giáo xứ mới chưa có tên gọi, đắn đo toan tính, bàn trước bàn sau, cuối cùng cha quản xứ đã nhập húy danh của hai vị giám mục: KIM (Paul Seizt Kim - Kom Tum) và MAI (Phêrô Nguyễn Huy Mai - Ban Mê Thuột) để đặt tên cho giáo xứ.
Ngày 03/12/1969 đúng ngày lễ kính thánh Phanxicô xaviê, giáo xứ Kim Mai mừng khánh thành nhà thờ và nhận thánh Phanxicô xaviê làm bổn mạng. Ngay sau đó, tổ chức bầu Hội đồng Giáo xứ khóa I, nhiệm kỳ 4 năm gồm:
- Ban Thường vụ: Ông Matthêu Nguyễn Khấn (mập), chủ tịch . Ông Đa Minh Mai Văn Trạc, phó chủ tịch I . Ông Đa Minh Vũ Thanh Hà, phó chủ tịch II . Ông Fx. Nguyễn Trung Thành, thư ký . Bà Anna Nguyễn Thị Đông (Khuyến) thủ quỹ.
- Ban ngành: Phụng vụ, ông Nguyễn Văn Biểu . Công giáo Tiến hành, ông Trần Mậu Đô . Công lý Hòa bình, ông Trần Văn Hải . Truyền thông Xã hội, ông Vũ Văn Từ.
- Giáo họ Tiến Thành: Ban hành giáo họ gồm 4 vị, do hai ông Nguyễn Văn Công và Phạm Văn Am, trưởng và phó giáo họ.
- Giáo họ Tân Lập cũ: không bầu ban hành giáo mà chia ra làm 5 khu, giáp:
* Giáp I: Từ ngã ba vận tải đến nhà thờ xứ. Ông Nguyễn Hữu Bài, trưởng giáp.
* Giáp II: Xóm Kiểu Mẫu (đường Phan Kiệm bây giờ). Ông Phan Văn Tích, trưởng giáp.
* Giáp III: Từ nhà thờ đến cầu Trắng. Ông Trần Bá Sen, trưởng giáp.
* Giáp IV: Xóm Bà Thà (đường Nguyễn Tuân Bây giờ). Ông Đinh Tú, trưởng giáp.
* Khu La San: Bên kia cầu Trắng đến buôn Alê B. Ông Vũ Đình Lương, trưởng khu.
Sau khi thành lập giáo xứ, giáo dân từ các nơi tụ về khá đông. Tổng số giáo dân giáo xứ Kim Mai lúc này là 1200 người.
- Ban Thường vụ: Ông Matthêu Nguyễn Khấn (mập), chủ tịch . Ông Đa Minh Mai Văn Trạc, phó chủ tịch I . Ông Đa Minh Vũ Thanh Hà, phó chủ tịch II . Ông Fx. Nguyễn Trung Thành, thư ký . Bà Anna Nguyễn Thị Đông (Khuyến) thủ quỹ.
- Ban ngành: Phụng vụ, ông Nguyễn Văn Biểu . Công giáo Tiến hành, ông Trần Mậu Đô . Công lý Hòa bình, ông Trần Văn Hải . Truyền thông Xã hội, ông Vũ Văn Từ.
- Giáo họ Tiến Thành: Ban hành giáo họ gồm 4 vị, do hai ông Nguyễn Văn Công và Phạm Văn Am, trưởng và phó giáo họ.
- Giáo họ Tân Lập cũ: không bầu ban hành giáo mà chia ra làm 5 khu, giáp:
* Giáp I: Từ ngã ba vận tải đến nhà thờ xứ. Ông Nguyễn Hữu Bài, trưởng giáp.
* Giáp II: Xóm Kiểu Mẫu (đường Phan Kiệm bây giờ). Ông Phan Văn Tích, trưởng giáp.
* Giáp III: Từ nhà thờ đến cầu Trắng. Ông Trần Bá Sen, trưởng giáp.
* Giáp IV: Xóm Bà Thà (đường Nguyễn Tuân Bây giờ). Ông Đinh Tú, trưởng giáp.
* Khu La San: Bên kia cầu Trắng đến buôn Alê B. Ông Vũ Đình Lương, trưởng khu.
Sau khi thành lập giáo xứ, giáo dân từ các nơi tụ về khá đông. Tổng số giáo dân giáo xứ Kim Mai lúc này là 1200 người.
Hoàng Phương
***Bài tiếp theo> Giáo xứ Kim Mai: Thời kỳ phát triển và những khó khăn (1969 - 1994)








hay quá trước giờ chỉ nghe bố mình kể lại chú chưa thấy trân mạng.
Trả lờiXóa